800 người đang online

Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2013; mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp trọng tâm năm 2014

Đăng ngày 07 - 01 - 2014
100%

 

    UỶ BAN NHÂN DÂN           CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN QUẢNG XƯ­ƠNG                             Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 498 /BC-UBND                                                   Quảng Xương, ngày 10  tháng 12 năm 2013

         
BÁO CÁO
Tổng kết thực hiện nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2013; mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp trọng tâm năm 2014
 
 

 

Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2013:
Thực hiện nhiệm vụ năm 2013 có nhiều khó khăn do suy thoái kinh tế thế giới và trong nước phục hồi chậm; sâu bệnh cây trồng và dịch bệnh gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp. Song, được sự giúp đỡ của UBND và các ngành cấp tỉnh; sự nổ lực, quyết tâm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở, sự cố gắng của doanh nghiệp và nhân dân trong toàn huyện; tình hình kinh tế - xã hội của huyện đạt nhiều kết quả quan trọng, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội cơ bản hoàn thành và vượt kế hoạch, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân được nâng lên.
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
1. Về phát triển kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 15,9%, tăng 0,4% so với kế hoạch, thấp hơn 1,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Nông, lâm, thủy sản tăng 5.8%; công nghiệp - xây dựng tăng 21,3%; dịch vụ tăng 20,7% so với cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản chiếm 33%, giảm 1,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 31,5%, tăng 1,2%; dịch vụ chiếm 35,5 %, tăng 0,3%. thu nhập bình quân đầu người đạt 19,5 triệu đồng (có phụ lục kèm theo).
1.1.    Phát triển nông, lâm, thủy sản và xây dựng nông thôn mới:
       Tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản đạt 712,15 tỷ đồng, bằng 100,3% kế hoạch, tăng 5,8% so với cùng kỳ, trong đó: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi 515,96 tỷ đồng; thủy sản 191,74 tỷ đồng; lâm nghiệp là 4,45 tỷ đồng. Tích cực triển khai thực hiện các cơ chế chính sách của tỉnh, của huyện trong nông nghiệp như: hỗ trợ giá giống lúa, phát triển trang trại, thủy lợi đồng cói, mua sắm tàu thuyền có công suất lớn, máy gặt đập liên hợp, máy cấy và chính sách về nuôi trồng thủy sản.
      - Đã tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện đúng cơ cấu giống, đúng lịch thời vụ; tưới tiêu hợp lý, phòng trừ sâu bệnh (các xã thực hiện tốt: Quảng Định, Q. Phong, Q. Yên, Q. Hòa, Q. Văn, Q. Ngọc); tăng thêm 19 máy gặt đập liên hợp nâng tổng số máy gặt đập liên hợp toàn huyên lên 58 máy; đưa vào 6 máy cấy; xây dựng 3 mô hình cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp tại xã Quảng Hợp, Quảng Văn, Quảng Đức; tổ chức 180 lớp tập huấn cho gần 10 nghìn lượt người tham gia về kỹ thuật thâm canh cây lúa và một số cây trồng khác; tăng cường chỉ đạo SX rau màu cây công nghiệp ngắn ngày. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 107,8 nghìn tấn bằng 98% kế hoạch. Đầu tư, cải tạo, nâng cấp một số công trình thủy lợi thiết yếu phục vụ tưới tiêu chủ động, không để hạn, úng xảy ra; chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng chống lụt bão và TKCN trên địa bàn huyện.
- Ngành chăn nuôi tiếp tục được quan tâm chỉ đạo theo hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, nâng cao tầm vóc đàn bò và nuôi lợn hướng nạc. Năm 2013,hoàn thành xây dựng 8 trang trại chăn nuôi tập trung đạt tiêu chí của tỉnh; nâng tổng số trang trại đạt tiêu chí của tỉnh 31 trang trại, xây dựng 180 công trình khí sinh học (Biogas); đưa vào nuôi mới 400 con lợn ngoại và truyền tinh nhân tạo đạt kết quả cho 4.000 con bò; tiêm phòng Vácxin cho đàn gia súc, gia cầm đạt 89.4% so với kế hoạch. Tập trung chỉ đạo khống chế không để dịch bệnh tại xanh, lở mồm long móng  lây lan ra diện rộng. Tổng đàn lợn đạt 125 nghìn con, bằng 100% kế hoạch, tăng 27,6% so với cùng kỳ, trong đó tỷ lệ đàn lợn hướng nạc là 31%; tổng đàn trâu đạt 543 con, bằng 101,5% kế hoạch và tăng 7% so với cùng kỳ; tổng đàn bò đạt 12 nghìn con, bằng 100% kế hoạch, tăng 8,5% so với cùng kỳ; tổng đàn gia cầm đạt 1,3 triệu con, tăng 13% so với cùng kỳ.
- Đẩy mạnh khai thác gắn với chế biến hải sản, đảm bảo ổn định diện tích, nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản mặn lợ và nuôi nước ngọt. Xây dựng mô hình nuôi tôm Thẻ chân trắng, cá Vược, cá Diêu Hồng tại Quảng Trung, Quảng Thạch, Quảng Chính, Quảng Trường bước đầu thu được kết quả tốt. Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 20,5 nghìn tấn, bằng 102,5% kế hoạch,
- Chương trình xây dựng nông thôn mới được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo quyết liệt. Đến nay, huyện đã có 2 xã (Quảng Tân, Quảng Hợp) hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới; có 2 xã đạt 18 tiêu chí: Quảng Thọ và Quảng Thái; có 2 xã đạt 16 tiêu chí : Quảng Trạch và Quảng Yên; có 5 xã đạt 15 tiêu chí: Quảng Văn, Quảng Hòa, Quảng Long, Quảng Bình, Quảng Phong; bình quân các xã trên địa bàn huyện đạt 14 tiêu chí.
1.2.   Phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ:
       - Nhìn chung hoạt động sản xuất công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 498,14 tỷ đồng bằng 104,5% kế hoạch và tăng 21,3% so cùng kỳ. Các nghề tiểu thủ công nghiệp như: mây tre đan, dệt chiếu cói, gò hàn cơ khí, mộc dân dụng...tiếp tục có bước phát triển tốt đã góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân; đã đưa thêm 18 máy dệt chiếu, nâng tổng số máy dệt chiếu trên địa bàn lên 376 máy.Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn là 201 doanh nghiệp, tăng 29 doanh nghiệp so với cùng kỳ; 93 doanh nghiệp phải giải thể. Tổng số hộ kinh doanh cá thể thành lập mới là 635 hộ, tăng 65 hộ so với cùng kỳ.  
       -Tổng vốn đầu tư xây dựng trên địa bàn đạt 843 tỷ đồng, bằng 100,4% kế hoạch, tăng 17,1% so với cùng kỳ. Cơ bản hoàn thành và đưa vào sử dụng một số công trình trọng điểm của huyện như: Nhà truyền thống, sân vận động, Trung tâm hội nghị, Trung tâm Văn hóa, nhà Thường vụ huyện ủy, nhà kỹ thuật Bệnh viện đa khoa huyện, xây dựng 9 trường học, 02 trạm y tế cao tầng, trạm bơm Thắng Phú, trạm bơm Hợp Giang, nâng cấp mở rộng đường Bình Yên..., khởi công xây dựng nhà thi đấu TDTT huyện. Hoàn thành sửa chữa một số tuyến đường; kiên cố hóa bê tông được 87km đường giao thông nông thôn.         
       - Chỉ đạo quyết liệt công tác GPMB để bàn giao cho các dự án: cơ bản hoàn thành GPMB dự án mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1A, Đường Quảng Lĩnh đi Quảng Thái, GPMB đầu tư XD đường lưới điện 35 KVA cho xí nghiệp may 888; chỉ đạo bàn giao vốn lưới điện cho các xã.; tiếp tục chỉ đạo GPMB khu du lịch Nam Sầm Sơn, khu đô thị Đông Á, đô thị du lịch biển Tiên Trang,
- Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ vẫn duy trì ở mức khá; giá trị sản xuất đạt  862,92 tỷ đồng bằng 100,6% kế hoạch và tăng 20,7% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 1.506,4 tỷ đồng, bằng 103,9% kế hoạch, tăng 22,5% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn đạt 10,5 triệu USD, bằng 102,9% kế hoạch, tăng 7,1% so với cùng kỳ..., xây mới được 5 chợ và đầu tư nâng cấp 2 chợ, từ đó đáp ứng tốt hơn việc cung, cầu và lưu thông hàng hóa trong huyện.
1.3. Công tác tài chính - kế hoạch và tín dụng ngân hàng:
- Tập trung chỉ đạo quyết liệt thu ngân sách, tăng cường thực hiện các biện pháp quản lý thu thuế, phí, lệ phí, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế. Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 694 tỷ đồng bằng 128% dự toán; tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 531 tỷ đồng, bằng 107% dự toán. Công tác đấu giá đất được tập trung chỉ đạo quyết liệt, đã tổ chức đấu giá thành công nhiều mặt bằng xen cư ở các xã: Quảng Tân, Thị trấn, Quảng Văn, Quảng Vinh, Quảng Phong, Quảng Long, Quảng Vọng..., tổng số tiền sử dụng đất nộp Ngân sách ước đạt 100 tỷ đồng, bằng 250% dự toán tỉnh giao và 94,3% dự toán huyện giao. Công tác kế hoạch được quan tâm chỉ đạo, kế hoạch phát triển KT - XH năm 2014 được xây dựng kịp thời, đạt chất lượng; triển khai xây dựng dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH huyện Quảng Xương đến năm 2025.
- Tổng dư nợ tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp ước đạt 566 tỷ đồng, tăng 106 tỷ đồng so với đầu năm, đạt 110% KH; nợ quá hạn là 2,6 tỷ đồng, tăng 200 triệu đồng so với cùng kỳ và chiếm 0,4% tổng dư nợ; nợ xấu là 600 triệu đồng, tăng 160 triệu so với cùng kỳ và chiếm 0,1% tổng dư nợ. Tổng dư nợ NHCSXH đạt 390,085 tỷ đồng, tăng 5,13 tỷ đồng so với đầu năm, đạt 99% kế hoạch; nợ quá hạn là 4,29 tỷ đồng tăng 313 triệu đồng so với đầu năm và chiếm 1,1% tổng dư nợ.
       1.4. Công tác  tài nguyên và môi trường:
- Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên tiếp tục được tăng cường; đã thẩm định cấp được 5.706 giấy chứng nhận QSDĐ, tăng 18,9% so với KH, bằng 60,1% so với cùng kỳ, trong đó cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu là 1.430 giấy; đăng ký, xóa thế chấp bảo lãnh QSDĐ cho 371 trường hợp; phê duyệt hồ sơ quy hoạch đất khu tái định cư, xen cư và điểm trung tâm sinh hoạt cộng đồng cho 25 xã, 249 hộ, diện tích 8,51 ha; quyết định công nhận 21 xã hoàn thành 100% số hộ đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu; cơ bản hoàn thành việc đo đạc ngoại nghiệp bản đồ dạng số trên địa bàn 10 xã (Quảng Tân, Trạch, thị trấn, Phong, Đức, Định, Nhân, Hòa, Yên, Ninh); rà soát diện tích bãi bồi ven sông, ven biển để quản lý theo thông tư 09/2013/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyền & Môi trường.
- Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường được quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả khá. Năm 2013, toàn huyện đã xây dựng được 7.535 lò xử lý rác thải (Quảng Hợp 1.287 lò, Q. Yên 1.007 lò, Q. Phong 1.004 lò, ...),bằng 125,6% kế hoạch, tăng 575,6% so với cùng kỳ; chỉ đạo 12 xã, thị trấn làm điểm về thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM (Q. Văn, Hòa, Yên, Bình, Hợp, Tân, Thọ, Lộc, Thái, Lợi, Phong và Thị trấn); tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 98,7%, tăng 0,7% so với KH và 1,7% so với cùng kỳ.
2. Về văn hóa - xã hội:
2.1. Hoạt động Văn hóa, thể dục thể thao, thông tin và truyền thông:
- Đã tập trung chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn, tuyên truyền xây dựng đời sống văn hóa gắn với chương trình xây dựng NTM (tiêu biểu là các xã: Q.Tân, Q.Hợp, Q.Hòa, ...). Phong trào "Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa" được đẩy mạnh, các chỉ tiêu, nhiệm vụ đều đạt và vượt kế hoạch đề ra: Đã khai trương xây dựng 18 thôn văn hóa, đạt 180% KH, công nhận 12 thôn văn hóa bằng 120% KH; khai trương 6 đơn vị và công nhận 7 đơn vị đạt chuẩn văn hóa, bằng 120% KH; tỷ lệ gia đình văn hóa toàn huyện đạt 75%. Đã triển khai tôn tạo chống xuống cấp được 4 di tích, lập hồ sơ khôi phục 6 di tích, có thêm 1 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia và 3 di tích xếp hạng cấp tỉnh; hoàn thành công tác sưu tầm, trưng bày tư liệu, hiện vật tại nhà truyền thống huyện với gần 1.000 tư liệu, hiện vật.
- Đã tổ chức thành công đại hội TDTT cơ sở và đại hội TDTT toàn huyện lần thứ VII (những đơn vị tổ chức tốt đại hội cơ sở và tham gia tốt đại hội TDTT toàn huyện là: Q.Bình, Q.Hòa, Q.Ninh, Q.Tân, Q.Lộc, Q.Trạch,...); đã tham gia thi đấu 6 giải thể thao cấp tỉnh, đạt 03 HCV, 07 HCB và 10 HCĐ; đạt giải nhất hội diễn nghệ thuật quần chúng cấp tỉnh; tỷ lệ dân số luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên đạt 34%, bằng 100% KH, tăng 1% so với cùng kỳ.
- Doanh thu viễn thông đạt 115,2 tỷ đồng, đạt 108% KH, doanh thu bưu chính đạt 3,4 tỷ đồng ,đạt 100% KH. Kiểm tra, xử phát hành chính 7 hộ vi phạm kinh doanh dịch vụ Intenet và Karaoke, với số tiền 30 triệu đồng; kiểm tra, xử lý vi phạm 08 trường hợp vi phạm Quy định về việc cưới.
2.2.  Công tác Giáo dục - Đào tạo:
- Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học ở các nhà trường, chú trọng công tác phụ đạo học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên. Kết thúc năm học 2012- 2013, ngành giáo dục huyện tiếp tục dành kết quả cao trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp: có 88 em học sinh đạt giải cao trong kỳ học sinh giỏi lớp 9, đồng đội xếp thứ nhất toàn tỉnh; kỳ thi OLIMPIC toán tuổi thơ toàn Quốc có 10 em đạt giải (2 HCV, 2 HCB, 6 HCĐ); có 5 học sinh đạt giải Quốc gia trong kỳ thi học sinh giỏi Olympic tiếng Anh (1HCV, 1 HCB, 1HCĐ, 2 bằng danh dự); thi cấp THCS, thi "bé thông minh" bậc mầm non cấp tỉnh đều xếp thứ nhì; 26 học sinh lớp 9 thi đậu vào trường THPT chuyên Lam Sơn; 113 em học sinh lớp 5 đạt giải HSG cấp tỉnh; trường THPT Quảng Xương 1 có đội tuyển học sinh giỏi xếp thứ nhì (sau trường THPT chuyên Lam Sơn) và trong tốp 200 trường toàn quốc về kết quả thi ĐH, CĐ, có 2 học sinh đậu thủ khoa ĐH; trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên có 01 học sinh đạt giải nhì môn lịch sử cấp quốc gia. Tỷ lệ HS đậu tốt nghiệp THPT đạt 99,7 %; đậu tốt nghiệp Bổ túc 98%; xét đậu tốt nghiệp THCS đạt 99%; xét hoàn thành chương trình tiểu học 99,7%. Công tác bồi dưỡng giáo viên được chú trọng, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên được nâng cao, có 7 giáo viên MN và 13 giáo viên THCS được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Công tác XD trường chuẩn Quốc gia được tập trung chỉ đạo quyết liệt, đã có thêm 9 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia (trong đó 02 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2), nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 61 trường; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 55% (một số đơn vị làm tốt là: Quảng Phong,Quảng Văn, Quảng Long, Quảng Nham, Quảng Thạch, Quảng Vọng, Quảng Thọ, Quảng Hùng, Q. Tân).
2.3.  Công tác y tế, dân số và kế hoach hóa gia đình:
- Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân ở cả tuyến huyện và xã được nâng lên, đã khám cho trên 188.000 lượt bệnh nhân, tăng 5% so với cùng kỳ, điều trị cho 106.000 lượt bệnh nhân, tăng 3,9% so với cùng kỳ. Thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, vì vậy trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra. Công tác thanh, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, đã tổ chức thanh, kiểm tra 96 nhà hàng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm và 31 bếp ăn tập thể; tổ chức tập huấn cho 225 lượt người là chủ các nhà hàng, khách sạn, quán ăn, bếp ăn tập thể... Năm 2013, có thêm 6 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt KH đề ra, nâng tổng số xã đạt chuẩn y tế lên 10 xã (đạt 27,7% số xã toàn huyện).
- Công tác DS - KHH gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản được quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1%, giảm 0,38% so với cùng kỳ; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 10,6 %, giảm 0,9% so với cùng kỳ; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 17,5%, giảm 0,8% so với cùng kỳ; tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi là 0,15% giảm 0,05% so với cùng kỳ.
2.4. Về giải quyết việc làm và an sinh xã hội:
       - Giải quyết việc làm cho 4.765 lao động, bằng 105,9% kế hoạch, trong đó lao động xuất khẩu nước ngoài là 215 lao động, bằng 35,8% kế hoạch; đã tổ chức 35 lớp đào tạo nghề cho 1.200 lao động, bằng 105% kế hoạch, tăng 3% so với cùng kỳ; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 39%, bằng 100,5% kế hoạch và tăng 1,3% so với cùng kỳ.
- Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ kịp thời, đúng đối tượng; đã giải quyết cứu trợ 59,8 tấn gạo cho các đối tượng gặp nhiều khó khăn về đời sống trong toàn huyện; tổ chức tặng gần 19 nghìn suất quà trị giá 4,4 tỷ đồng cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 là 12,47% giảm 3,05% so với cùng kỳ. lập hồ sơ quản lý 65 đối tượng nghiên ma túy, trong đó đưa 44 đối tượng vào trung tâm giáo dục LĐXH. Tổng số đối tượng tham gia các hình thức BHYT là 127.245 người, bằng 57% dân số. Công tác CSBVTE được quan tâm chỉ đạo.
3. Công tác Nội vụ, Thanh tra, Tư pháp, Cải cách hành chính:
- Công tác quản lý cán bộ tiếp tục được tăng cường; rà soát lại chỉ tiêu biên chế số cán bộ, công chức, viên chức ở từng đơn vị; bổ nhiệm 04 cán bộ quản lý các phòng chuyên môn, 03 Chủ tịch và 04 P.CT UBND cấp xã, 02 Ủy viên UBND cấp xã; bổ nhiệm 02 trưởng CA, 03 phó trưởng CA, 13 chỉ huy phó Quân sự cấp xã và 25 CBQL các trường học, bổ nhiệm lại 81 CBQL trường học; miễn nhiệm, bãi nhiệm 03 Chủ tịch UBND cấp xã, 02 phó chủ tịch và 01 Ủy viên UBND cấp xã, 2 cán bộ quản lý giáo dục; điều động luân chuyển 18 công chức địa chính, 14 công chức kế toán ngân sách các xã... ; thẩm định cho 846 đối tượng được hưởng chế độ theo quyết định 40/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; đã khôi phục mốc chỉ giới phân định ranh giới giữa một số xã vùng giáp gianh với các xã của huyện Tĩnh Gia; kịp thời khen thưởng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích cao trong thực hiện nhiệm vụ; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật.
- Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng được chú trọng thực hiện: Tiếp dân 90 lượt, số lượng 416 người, nhận và giải quyết 110 đơn khiếu nại, tố cáo. Chỉ đạo thực hiện tốt các quy định về kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của CB, CC, VC thuộc đối tượng phải kê khai tài sản thu nhập; thực hiện hoàn thành 23 cuộc thanh tra theo kế hoạch và 02 cuộc thanh tra theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện. đã giải quyết được cơ bản, dứt điểm các vụ khiếu nại tồn đọng, kéo dài và các đơn thư phát sinh trong năm.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện; việc thẩm định các văn bản dưới luật do chính quyền cấp xã ban hành được chú trọng, rà soát hủy bỏ các văn bản ban hành không phù hợp với qui định của pháp luật; thực hiện tốt nhiệm vụ chứng thực, đăng ký và quản lý hộ tịch; tổ chức triển khai và tổng hợp đầy đủ ý kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992 và dự thảo Luật đất đai sửa đổi.
- Đã thi hành án xong 361 vụ việc/712 vụ việc phải thi hành, số tiền thi hành án xong 1,18 tỷ đồng đạt  87% số vụ việc có điều kiện thi hành.
- Phòng chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục được quan tâm chỉ đạo; công tác cải cách hành chính ở cấp huyện và một số xã có chuyển biến tích cực, bộ phận "một cửa" cơ quan UBND huyện đã tiếp nhận và giải quyết 79.628 hồ sơ; triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2008 tại cơ quan UBND huyện. 
4.  Về quốc phòng - an ninh:
Tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện nghị Quyết TW8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới; thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và xây dựng lực lượng quân đội chính quy vững mạnh toàn diện; hoàn thành nhiệm vụ tuyển quân đợt 2 năm 2013, với 320 thanh niên lên đường nhập ngũ, đạt 100% KH. Tăng cường công tác huấn luyện quân sự, bồi dưỡng kiến thức QP-AN, đã bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng cho 731 đồng chí là đối tượng 4, là cán bộ, công chức, xã đội trưởng của các đơn vị địa phương trong huyện, kết quả 100% đạt yêu cầu, có 75,5% đạt khá, giỏi.
Tình hình ANTT trên địa bàn luôn được đảm bảo, hoạt động của các loại tội phạm được kiềm chế, các vi phạm pháp luật được xử lý nghiêm, một số vụ việc nghiêm trọng xảy ra được tập trung chỉ đạo giải quyết ổn định; trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn công cộng được giữ vững, không để xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng và cháy nổ lớn. Huyện đã chỉ đạo nghiêm túc việc sơ kết, tổng kết các Chỉ thị, Nghị quyết liên quan đến công tác đảm bảo ANTT; mở nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, điều tra làm rõ 147 vụ với 370 đối tượng, trong đó hình sự 122 vụ, 335 đối tượng, ma túy 25 vụ, 35 đối tượng; khởi tố điều tra, chuyển Viện kiểm sát truy tố 105 vụ, 261 bị can; lập biên bản xử lý 4.614 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông... Lực lượng làm công tác đảm bảo ANTT ở cơ sở được quan tâm củng cố; đã mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và điều lệnh cho 366 đồng chí là công an viên trên địa bàn huyện. Kiểm tra, rà soát, vận động nhân dân tham gia nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đạt kết quả khá; đã thu hồi được 50kg thuốc nổ, 1 lựu đạn, 1 súng CKC, 5 súng tự chế, 70 dao và 23 kiếm các loại.
        Tình hình an ninh trật tự tuyến biển cơ bản ổn định, đảm bảo an toàn cho ngư dân, tàu thuyền hoạt động trên biển; năm 2013, phát hiện 170 lượt tàu cá Trung quốc xâm phạm khai thác hải sản trái phép; Đồn biên phòng Sầm Sơn đã phối hợp với chính quyền địa phương và trạm quản lý đường sông Lạch ghép tiến hành tháo gỡ việc cắm cọc trái phép trên dòng sông Yên.
II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM:
Thực hiện nhiệm vụ năm 2013 đã đạt được những kết quả quan trọng, song vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần quan tâm khắc phục đó là:
1. Công tác qui hoạch vùng sản xuất, tạo điều kiện để áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; việc chỉ đạo điều hành cơ cấu giống, lịch thời vụ và đưa tiến bộ kỹ thuật, giống có chất lượng, năng xuất cao ở 1 số xã chưa tốt; sản xuất vụ đông không đạt kế hoạch đề ra; công tác quản lý nhà nước về các dịch vụ vật tư nông nghiệp chưa thường xuyên.
2. Công tác lập báo cáo đầu tư và phê duyệt một số dự án còn chậm, tiến độ thi công các dự án, công trình được tập trung chỉ đạo quyết liệt, tuy nhiên do nguồn vốn đầu tư gặp nhiều khó khăn nên một số dự án, công trình chậm so với kế hoạch đề ra. Hoạt động của các doanh nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn, Số doanh nghiệp phá sản, dừng hoạt động và SX kém hiệu quả còn nhiều.
3. Kết quả thu thuế và các khoản nợ đọng gặp nhiều khó khăn, một số khoản thu đạt thấp so với kế hoạch đề ra như: Thuế VAT, phí trước bạ; số doanh nghiệp nợ đọng thuế còn nhiều và có chiều hướng gia tăng, đặc biệt tại các công ty, doanh nghiệp; một số xã nợ đọng tiền cấp quyền sử dụng đất lớn, nhưng chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả. Công tác quản lý thu, chi của một số xã, trường học chưa đảm bảo quy định; đặc biệt là thực hiện các khoản thu từ nguồn đóng góp của nhân dân.
4. Năng lực giải quyết công việc cho công dân về đất đai ở một số xã còn yếu (Q. Vinh, Q. Hùng...) Hoạt động đội qui tắc ở nhiều xã chưa tích cực (Q. Giao, Q. Lưu, Q. Lợi...).
5. Công tác thông tin, tuyên truyền ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng xây dựng làng văn hóa ở một số đơn vị còn hạn chế; một số xã chưa thực hiện tốt Quy định về việc cưới, việc tang và lễ hội (Q.Lưu, Q.Giao...) Công tác quản lý nhà nước về hành nghề y dược tư nhân, VSATTP chưa thường xuyên; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở nhiều xã còn cao. Tình trạng lao động thiếu việc làm, lao động sang nước ngoài trái phép còn nhiều và giải quyết còn khó khăn, hạn chế.
6. Thực hiện CCHC theo cơ chế "một cửa" tại UBND các xã, thị trấn hạn chế, chậm trả kết quả cho tổ chức, công dân; việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật cán bộ, công chức có lúc chưa nghiêm, còn có cán bộ, công chức thiếu tính gương mẫu khi thực thi nhiệm vụ; việc áp dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính còn chậm. Hoạt động tôn giáo trái phép có lúc, có nơi chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở một số xã, cơ quan, đơn vị chưa tốt, đơn thư khiếu nại vượt cấp còn nhiều.
        7. Các loại tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp như: cờ bạc, lô đề, cá độ bóng đá...; phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ ở một số cơ sở còn yếu. Công tác nắm bắt tình hình trên một số lĩnh vực, địa bàn cơ sở có lúc chưa kịp thời; công tác phối hợp giữa lực lượng Công an với các ban ngành đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ đảm bảo vệ ANTT có lúc chưa chặt chẽ; vai trò quản lý Nhà nước về ANTT ở một số cơ sở còn yếu. Tổ bảo vệ ANTT và tổ ANXH ở một số xã hoạt động hiệu quả thấp và còn mang tính hình thức .
III - KIỂM ĐIỂM CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND HUYỆN:
1. Những ưu điểm:
Chủ tịch, các phó Chủ tịch và các thành viên UBND huyện luôn bám sát các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy - HĐND huyện, chỉ đạo của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh để chỉ đạo, điều hành; cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch thực hiện; trong quá trình chỉ đạo thực hiện tăng cường công tác giao ban nắm tình hình, tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn, nhằm đảm bảo tiến độ, nâng cao hiệu quả công việc. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó chú trọng vào các lĩnh vực: Đất đai, xây dựng cơ bản, kinh doanh dịch vụ, an ninh trật tự.
Trong chỉ đạo, điều hành đã tập trung vào các nhiệm vụ trong tâm, trọng điểm: Chỉ đạo quyết liệt cơ cấu cây trồng, lịch thời vụ, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, công tác phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo các nhà thầu khắc phục khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, công trình, gắn với tăng cường giám sát, bảo đảm chất lượng công trình; điều hành quyết liệt công tác giải phóng mặt bằng các dự án, tập trung chỉ đạo công tác quy hoạch và đấu giá quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chỉ đạo thực hiện đề án xử lý rác thải tại hộ gia đình; tăng cường khai thác các nguồn thu, kiểm soát công tác chi đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả; nâng cao chất lượng giáo dục, văn hóa, y tế; xây dựng trường chuẩn quốc gia, xã chuẩn quốc gia về y tế; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và đảm bảo ổn định về quốc phòng - an ninh.
2. Những hạn chế, yếu kém trong chỉ đạo điều hành:
 Việc triển khai một số cơ chế chính sách do HĐND ban hành còn chậm; chất lượng CCHC, ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành còn hạn chế; công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả một số lĩnh vực còn hạn chế: Năng xuất, sản lượng lương thực đạt thấp so với kế hoạch; công tác đào tạo nghề và số lao động xuất khẩu đi nước ngoài đạt thấp; công tác phát triển du lịch chưa được quan tâm đúng mức.
                                                        Phần thứ hai
MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NĂM 2014
       Bước vào năm 2014, kinh tế thế giới, trong nước đang phục hồi; một số dự án lớn của tỉnh vừa được khởi công năm 2013 có sức hút đầu tư lớn; tuy nhiên, suy thoái kinh tế vẫn còn, thị trường bất động sản trầm lắng, doanh nghiệp chậm phục hồi; thiên tai, bão lũ, dịch bệnh có thể xảy ra sẽ là những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của huyện nhà.
I.       MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
        1. Mục tiêu tổng quát:
 Tiếp tục tạo ra tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị dịch vụ, công nghiệp, xây dựng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tập trung giải quyết việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa - xã hội và đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
        2. Các chỉ tiêu chủ yếu:
2.1. Về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 15% trở lên, trong đó nông, lâm, thủy sản tăng khoảng 4,6%, công nghiệp – xây dựng tăng 19%, dịch vụ tăng 20%;
- Cơ cấu kinh tế năm 2014: Nông, lâm, thủy sản 31,5%; công nghiệp - xây dựng 32%; dịch vụ 36,5%;
- Tổng sản lượng lương thực có hạt: 100 nghìn tấn trở lên;
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 22,2 triệu đồng;
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 880 tỷ đồng;
       - Giá trị xuất khẩu 11 triệu USD;
       - Thu ngân sách trên địa bàn tăng 5% so với KH tỉnh giao;
- Chi ngân sách địa phương đảm bảo kế hoạch;
2.2. Các chỉ tiêu về xã hội:
- Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi nhà trẻ ra lớp: 27%; mẫu giáo đạt 82,5%.
- Số trường đạt chuẩn quốc gia: 6 trường trở lên.
- Khai trương xây dựng 2 xã đạt chuẩn văn hóa NTM; công nhận 17 thôn, đơn vị văn hóa trở lên.
- Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 75,5%; tỷ lệ gia đình thể thao đạt 22,5% trở lên;
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,0%; mức giảm sinh 0.80%o;
- Số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế: 6 xã trở lên;
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 16,5%;
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm trên 3% so với năm 2013;
- Giải quyết việc làm 4.600 người trở lên;
- Đào tạo nghề 1.500 người;
- Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh: 97%;
- Tỷ lệ chất thải rắn, chất thải y tế được thu gom, xử lý: 70%
 
II. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM:
       1. Về phát triển kinh tế:
        1.1. Phát triển nông, lâm, thủy sản và xây dựng nông thôn mới:
 - Đưa nhanh cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp; nhân rộng và phát triển nhiều cánh đồng mẫu lớn; ổn định diện tích cây lương thực, nâng cao năng suất giá trị sản phẩm ngành trồng trọt; đẩy mạnh sản xuất vụ đông; kiểm soát và phòng trừ tốt các loại sâu bệnh hại cây trồng. Tiếp tục thực hiện các chính sách: Hỗ trợ mua máy gặt đập, máy cấy; hỗ trợ giá giống lúa năng suất, chất lượng cao; hỗ trợ phát triển vùng cói nguyên liệu...
- Phát triển chăn nuôi bền vững theo hình thức trang trại gắn với đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường. Tiếp tục thực hiện chính sách phát triển chăn nuôi lợn ngoại, truyền tinh nhân tạo đàn bò; đưa vào nuôi mới 400 con lợn nái ngoại và truyền tinh nhân tạo đạt kết quả cho 4.000 con bò.
 - Đẩy mạnh phát triển kinh tế thủy sản đồng bộ trên cả 3 mặt: khai thác, nuôi trồng và chế biến; tăng cường đưa các giống thủy sản năng suất, hiệu quả vào nuôi thả; chuyển mạnh hình thức nuôi quảng canh sang nuôi bán thâm canh; tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích ngư dân đầu tư sản xuất.
- Thường xuyên phát động các phong trào trồng cây trong nhân dân; ổn định diện tích trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất.
- Tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được phê duyệt, trong đó lựa chọn những nội dung công việc quan trọng, có tính khả thi cao, huy động nguồn lực để thực hiện; lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn và đẩy mạnh xã hội hóa để thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, tạo bước chuyển biến rõ nét. Phấn đấu có 6 xã hoàn thành đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới lên; bình quân chung toàn huyên đạt 16 tiêu chí trở lên.
1.2. Phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ:
- Tích cực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo Kế hoạch hành động số 345/KH-UBND của UBND huyện để thu hút các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện; tiếp tục khuyến khích phát triển các ngành nghề: mây tre đan, dệt chiếu cói, mộc dân dụng, thêu tranh, gò hàn, cơ khí, làng nghề cao su (Q. Trạch)...; triển khai xây dựng hạ tầng làng nghề xã Quảng Trường.
- Tập trung đầu tư xây dựng các công trình chuyển tiếp cũng như xây dựng mới là: Nhà thi đấu thể dục thể thao huyện, Hạ tầng khu dân cư xã Quảng Tân, tuyến đường Tân - Định, nâng cấp và mở rộng đường Quảng Ngọc đi Quảng Phúc, đường Q. Thạch đi Q. Chính, trạm y tế (Quảng Bình, Vọng, Lợi, Tân, Yên, Trạch), xây dựng hạ tầng phục vụ xây dựng NTM...Xúc tiến kêu gọi đầu tư khu trung tâm dịch vụ thương mại và du lịch Bắc cầu Ghép.
       - Hoàn thành quy hoạch vùng phát triển kinh tế xã hội: Khu dịch vụ thương mại bắc ghép, khu đô thị Tiên Trang, Khu đô thị Cống Trúc; triển khai đầu tư khu du lịch Nam Sầm Sơn. Xây dựng, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn gắn với đổi mới mô hình quản lý chợ; năm 2014, khởi công xây dựng, nâng cấp một số chợ (Q. Bình, Q. Long, Q. Đức, Q. Lưu, Q. Lộc). Thực hiện các biện pháp bình ổn giá cả thị trường, chống sản xuất buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu và gian lận thương mại, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.
       1.3. Công tác tài chính - kế hoạch và tín dụng ngân hàng:
- Tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các biện pháp tăng thu, chống thất thu, nợ đọng thuế, đảm bảo hoàn thành và vượt dự toán thu ngân sách nhà nước giao. Quản lý chi tiêu hợp lý, đúng chế độ; tăng cường quản lý, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Khuyến khích các ngân hàng, các tổ chức tài chính mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trên địa bàn huyện; các ngân hàng, các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng cao cho các thành phần kinh tế và người dân.
- Hoàn thành dự án xây dựng "quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Quảng Xương đến năm 2025" trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt; xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của huyện giai đoạn 2016 - 2020.
1.4. Tài nguyên và môi trường:
- Tập trung rà soát kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015; tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án vào xin thuê đất xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh; tiếp tục rà soát, kiểm tra các dự án đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không triển khai thực hiện hoặc thực hiện chậm, kém hiệu quả để xử lý, thu hồi theo quy định; hoàn thành công tác cấp GCN quyền sử dụng đất lần đầu cho 15 xã còn lại.
Tăng cường quản lý nhà nước, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về bảo vệ tài nguyên và môi trường;triển khai chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 11- NQ/HU của Huyện ủy về tăng cường công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2010 - 2015; tiếp tục triển khai đề án về xử lý rác thải tại hộ gia đình.
       2. Về lĩnh vực văn hóa - xã hội:
       2.1. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin và truyền thông:
       Tiếp tục đây mạnh công tác thông tin tin truyền, xây dựng thôn văn hóa, xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, đơn vị đạt chuẩn văn hóa, đặc biệt đối với những xã trong kế hoạch hoàn thành xây dựng nông thôn mới đến năm 2015, gắn với nâng cao chất lượng xây dựng thôn văn hóa; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới; khai trương được 10 thôn, 5 đơn vị văn hóa trở lên, công nhận được ít nhất 12 thôn, 5 đơn vị đạt chuẩn văn hóa. Tăng cường các hoạt động văn hóa, thể thao; tham gia đạt kết quả cao tại đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VII năm 2014; tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội diễn văn nghệ quần chúng kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra thực hiện tốt Quy định của UBND huyện về việc cưới, việc tang và lễ hội; công tác quản lý nhà nước về di tích, kinh doanh dịch vụ văn hóa; tăng cường phát triển du lịch. Tiếp tục chỉ đạo phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan nhà nước; triển khai xây dựng, thực hiện mô hình "một cửa" điện tử tại cơ quan UBND huyện.
       2.2. Công tác giáo dục - đào tạo:
       Xây dựng và triển khai thực hiện tốt chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo; tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt nề nếp - kỹ cương, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống và hướng nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện gắn kết với cuộc vận "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và các cuộc vận động lớn của Ngành. Duy trì và từng bước nâng cao lực học của học sinh; đẩy mạnh phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu, phấn đấu kết quả thi HSG giữ vững vị trí trong tốp các huyện dẫn đầu của tỉnh. Quan tâm chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tăng cường các điều kiện để tăng tỷ lệ huy động học sinh ra lớp, nhất là ngành học mầm non; cũng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; thực hiện tốt yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục.
       2.3. Công tác y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình:
Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh và ngăn ngừa mất cân bằng giới tính; giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên. Nâng cao hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân ở các tuyến; cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Triển khai có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, ngăn chặn kịp thời không để dịch bệnh lớn xảy ra. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, nhất là công tác quản lý nhà nước về hành nghề y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm, các dịch vụ về y tế. Đẩy mạnh phong trào xây dựng Làng Văn hóa - Sức khỏe.
2.4. Công tác CSXH,Giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo:
Tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo; hoàn thành bước 1 cơ sở vật chất đưa trường Trung cấp Nghề Quảng Xương hoạt động tại cơ sở mới; thực hiện từng bước đào tạo nghề phù hợp và đáp ứng nhu cấu của thị trường; trong năm giải quyết việc làm cho khoảng 4600 lao động, xuất khẩu 300 – 400 lao động đi nước ngoài. Tiếp tục chăm lo và thực hiện tốt các chế độ chính sách cho người có công với cách mạng và các đối tượng bảo trợ xã hội. Triển khai thực hiện tốt Quyết định 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ gia đình chính sách. Đẩy mạnh chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, phấn đấu giảm trên 3% tỷ lệ hộ nghèo; thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn, nâng tỷ lệ người tham gia BHYT lên trên 60%.
       3. Công tác Nội vụ, Thanh tra, Tư pháp, Cải cách hành chính:
       Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc theo cơ chế một cửa tại cơ quan UBND huyện và UBND các xã, thị trấn. Tăng cường giám sát việc thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và thực hiện nghiêm túc, kịp thời phương án bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ, công chức thuộc UBND huyện quản lý. Duy trì công tác tiếp dân, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, hạn chế đơn thư vượt cấp. Tích cực kiểm tra và chấn chỉnh công tác văn thư lưu trữ; thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, tin học hóa công tác quản lý hộ tịch; thẩm định, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật.
       4. Công tác quốc phòng - an ninh:
 Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của tỉnh về công tác đảm bảo ANTT tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân; nâng cao năng lực, trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức làm công tác tự quản về ANTT ở cơ sở. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo ANTT xã, Tổ bảo vệ thôn và Tổ an ninh xã hội; xây dựng nhiều khu dân cư an toàn về ANTT; kiềm chế, giảm tội phạm và các vụ vi phạm pháp luật, giảm thiểu tai nạn giao thông; chung sức xây dựng nông thôn mới.
Triển khai thực hiện tốt kế hoạch huấn luyện quân sự, giáo dục kiến thức quốc phòng, kế hoạch tuyển quân năm 2014. Thực hiện nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực sẵn sàng chiến đấu; xây dựng phương án và tham gia có hiệu quả công tác phòng chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn; đảm bảo tốt an ninh tuyến biển, tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho ngư dân làm ăn trên biển. Năm 2014, phấn đấu 100% số xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị, trường học ổn định về chính trị, đảm bảo tốt trật tự an toàn xã hội, hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương; 70% khu dân cư an toàn về ANTT.
Thủ trưởng các ngành, các đơn vị, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn căn chức năng, nhiệm vụ, chủ động xây dựng kế hoạch và có các giải pháp tập trung vào những lĩnh vực trong tâm, trọng điểm, phân công trách nhiệm để tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, kế hoạch đề ra./.
Nơi nhận:                                                                            KT. CHỦ TỊCH
-VPUBND tỉnh (để báo cáo);                                                     PHÓ CHỦ TỊCH
-TTr.Huyện uỷ, TT HĐND (để báo cáo);
-Chủ tịch, các PCT UBND huyện;
-Các phòng, ban, cơ quan thuộc huyện;
-Các đơn vị, các tổ chức đoàn thể cấp huyện;
-UBND các xã, thị trấn;
-Lưu: VT.                                                                              Trần Thế Lưu.                                                                                         
                                                                                     

<

Tin mới nhất

Báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh...(21/04/2016 10:32 SA)

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội, đảm bảo Quốc phòng - An ninh quí...(22/03/2016 2:55 CH)

Báo cáo Chỉ đạo, điều hành của UBND huyện về tình hình KT-XH, QP-AN tháng 10; nhiệm vụ trọng tâm...(19/10/2015 9:27 CH)

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Xương lần thứ XXV, nhiệm...(19/10/2015 9:27 CH)

Báo cáo Kiểm điểm sự chỉ đạo, điều hành năm 2015 và xây dựng Chương trình công tác năm 2016(19/10/2015 9:27 CH)

BÁO CÁO Thực hiện nhiệm vụ Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng - An ninh 9 tháng đầu năm; nhiệm vụ, giải...(07/10/2015 9:27 CH)

BÁO CÁO Thực hiện nhiệm vụ Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng - An ninh 6 tháng đầu năm; nhiệm vụ, giải...(07/10/2015 9:27 CH)

BÁO CÁO Tình hình thực hiện nhiệm vụ Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng - An ninh quí 01; nhiệm vụ...(07/10/2015 9:27 CH)